Kinh doanh xanh là một xu hướng toàn cầu, đặc biệt khi những tác động không mong muốn của việc phát triển kinh tế lên môi trường đã để lại những hậu quả khó kiểm soát. Các doanh nghiệp trên thế giới, cho dù là DN ở các nước phát triển mạnh, hoặc các nước đang phát triển, đều lấy xu hướng này làm một tiêu chí cho sự phát triển văn minh, mang tính bền vững. Ở Việt Nam, Chính phủ, xã hội cũng như cộng đồng doanh nghiệp đều nhận thức rõ vấn đề quan trọng này và bắt tay vào hành động.

DMVN sớm chú ý đến tăng trưởng xanh

Tăng trưởng xanh là tăng trưởng hiệu quả việc sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm và tác động môi trường, có tính đến các rủi ro thiên nhiên và vai trò quản lý môi trường, quản lý nguồn vốn thiên nhiên trong công tác phòng tránh thảm họa vật chất.

Trong các ngành công nghiệp ở Việt Nam, Dệt May là một Ngành nhiều năm nay có mức độ tăng trưởng cao, luôn ở mức 2 con số. Đặc thù của Ngành phần lớn là xuất khẩu nên tiêu chí kinh doanh xanh, tăng trưởng xanh luôn được đính kèm với các tiêu chí nhập hàng dệt may từ các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Để đáp ứng yêu cầu của bạn hàng, DMVN ngay từ rất sớm đã chú ý đến tăng trưởng xanh. Bên cạnh đó, với trách nhiệm xã hội cao nên hầu hết các DN DMVN, nhất là các DN thuộc Tập đoàn DMVN đều ý thức rõ, hành động ngay, và đầu tư bài bản trong quy trình tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường.

Tăng trưởng xanh và phát triển bền vững là trọng tâm trong chiến lược mà các DN cần hướng tới. Điều này không chỉ giúp các DN vạch ra được lộ trình phát triển rõ ràng cụ thể, qua đó còn đề ra các chủ trương, chính sách hoạt động phù hợp trong từng giai đoạn, tạo nền tảng giúp các DN có được sự phát triển vững chắc trong dài hạn.

Trong chiến lược tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của mình, DMVN chú trọng giải quyết các vấn đề cơ bản: tiết giảm năng lượng, nhiên liệu trong SXKD; áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 1400:2004 cho hoạt động SXKD.

 

Những thành công đáng kể

Những năm gần đây, DN DMVN đã đạt được thành công đáng kể trong việc: tiết giảm năng lượng, nhiên liệu trong SXKD. Năng lượng chủ yếu sử dụng trong SX dệt may hiện nay là điện để chạy máy, thắp sáng, làm mát, tiếp đó là than, dầu FO, khí, nước. Thực hiện một phép tính nhỏ ở một khâu sản xuất của ngành dệt may: để tạo một tấn hơi nước cho dây chuyền là, mỗi ngày công nhân phải đốt ít nhất 700 lít dầu, với giá dầu khoảng 20.000đ/lít thì chi phí lên tới 14 triệu đồng. Vậy nếu tính trên quy mô một công ty và tính quy mô toàn ngành, chi phí năng lượng thật sự là một con số rất lớn. Vì thế, việc tìm ra những giải pháp tiết kiệm năng lượng và nước là điều quan tâm hàng đầu của các nhà sản xuất nhằm giảm chi phí, giảm giá thành và nâng cao được tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đồng thời, việc này còn giúp giảm sự tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường. Với điều kiện sản xuất tại hầu hết các DN DMVN hiện nay thì việc tiết kiệm năng lượng, nước có thể thực hiện được trong hầu khắp các khâu từ quản lý đến sản xuất như: hệ thống lò hơi, máy nén khí, động cơ, chiếu sáng, cải tiến thiết bị, quy trình công nghệ, hợp lý hóa kế hoạch sản xuất và kế hoạch bảo dưỡng thiết bị, tiết kiệm nước, nâng cao ý thức tiết kiệm của nhân viên… Những biện pháp này khá đơn giản, vốn đầu tư thấp, thời gian hoàn vốn ngắn. Do đó hầu hết các DN dệt may đến nay đều áp dụng và thu được thành công.

Đơn cử chương trình tiết kiệm năng lượng ở Tổng Công ty May 10 - Công ty CP là một trong những đơn vị trọng điểm về sử dụng năng lượng trên địa bàn quận Long Biên (Hà Nội) với lượng tiêu thụ điện bình quân 5 triệu Kwh/năm và 1,4 triệu tấn than/năm. Trong diễn đàn CEO về Kinh doanh Xanh năm 2014, bà Nguyễn Thị Thanh Huyền, Tổng Giám đốc May 10 đã nhấn mạnh: “Với xu hướng tăng trưởng xanh, May 10 đã hưởng ứng và bắt tay làm ngay từ rất sớm, và làm từ những việc nhỏ nhất. Bởi không làm từ việc nhỏ sẽ không thể thực hiện cả một chiến lược lớn được.” Trong nhiều năm qua May 10 luôn quan tâm đến công tác sử dụng năng lượng tiết kiệm và đề ra nhiều biện pháp cụ thể để tiết giảm chi phí sản xuất nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.Các giải pháp mà Tổng công ty đã và đang thực hiện có thể chia ra làm hai nhóm đó là các biện pháp Quản lý sản xuất và Kỹ thuật đầu tư.

7 biện pháp quản lý được May 10 đưa ra bao gồm:

1. Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục cho cán bộ, công nhân viên ý thức sử dụng tiết kiệm điện không những ở nơi làm việc mà còn tại gia đình của mình.

2. Đầu năm các đơn vị tham gia ký giao ước thi đua tiết kiệm chi phí trong đó có tiết kiệm điện và cuối năm Tổng công ty xét thưởng cho các cá nhân đơn vị đạt được kết quả tốt.

3. Bố trí dây chuyền sản xuất hợp lý, đào tạo nâng cao tay nghề thúc đẩy tăng năng suất phát huy hiệu quả dây chuyền công nghệ.

4. Xây dựng quy chế sử dụng điện, sử dụng thiết bị cho các đơn vị.

5. Thực hiện lộ trình giảm giờ làm, hạn chế làm thêm và giảm tối đa thời gian làm việc vào giờ cao điểm.

6. Lắp công tơ điện theo dõi điện năng tiêu thụ tới từng bộ phận của đơn vị sản xuất, hàng tháng thống kê, đánh giá và so sánh lượng điện tiêu thụ.

7. Nghiên cứu thao tác chuẩn đưa vào áp dụng để tăng năng suất lao động, giảm vị trí làm việc trên chuyền may do đó giảm số lượng thiết bị, giảm lượng đèn chiếu sáng.

14 biện pháp kỹ thuật, đầu tư:

1. Sử dụng tấm phản quang tráng bạc lắp lên các chao đèn trong XN sản xuất tăng cường độ sáng do đó giảm 1/3 lượng bóng đèn.

2. Giảm số bóng đèn chiếu sáng chung và những khu vực không cần thiết, sử dụng bóng đền LED công suất nhỏ chiếu sáng cục bộ những nơi cần thiết.

3. Sử dụng bóng đèn LED cho những nơi chiếu sáng công cộng và biển quảng cáo giảm tiêu thụ điện năng.

4. Thay thế toàn bộ các nồi hơi điện sang sử dụng nồi hơi đốt dầu hoặc đốt than.

5. Bảo dưỡng các hệ thống nồi hơi, điều hòa không khí, thông gió làm mát để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống và tiết kiệm năng lượng. Xử lý tốt nguồn nước cấp cho lò hơi, tận dụng tối đa nước hồi để cấp cho lò hơi tiết kiệm nhiên liệu. Kiểm tra hệ thống cung cấp hơi nóng, bảo dưỡng sửa chữa khắc phục rò rỉ, thay thế van tách nước để giảm tổn hao trên hệ thống.

6. Sử dụng bóng đèn ống T5-28w cho những công trình lắp đặt mới và thay thế dần trong quá trình sử dụng.

7. Đầu tư thiết bị công nghệ mới sử dụng động cơ SERVO tiết kiệm điện thay thế cho động cơ ly hợp cơ khí.

8. Đầu tư các thiết bị có sử dụng biến tần như máy cắt, máy ép, bàn hút.

9. Lắp đặt hệ thống nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời cho các tòa nhà.

10. Phân chia công tắc điều khiển đèn chiếu sáng trong XN thành các cụm nhỏ để dễ bật tắt khi cần thiết và khi có ít người đi làm.

11. Luôn quan tâm lắp đặt bù hệ số công suất và kiểm tra bảo dưỡng hệ thống làm việc ổn định đảm bảo hệ số công suất 0.9 trở lên.

12. Lắp đặt hệ thống làm mát nhà xưởng bằng hệ thống quạt thông gió và làm mát bằng hơi nước để hạn chế thời gian chạy máy điều hòa trung tâm.

13. Xây dựng các công trình mới chú ý thiết kế tăng cường cửa kính, sử dụng ánh sáng tự nhiên.

14. Thiết kế và lắp đặt hệ thống điện, lựa chọn dây dẫn phù hợp đảm bảo giảm tổn hao truyền dẫn và an toàn.

Những biện pháp kể trên giúp May 10 tiết kiệm tới 20% năng lượng tiêu thụ, góp phần tăng đáng kể hiệu quả SXKD và công tác bảo vệ môi trường.

Một điển hình trong công tác này ở miền Trung còn có thể kể đến Tổng Công ty CP Dệt May Hòa Thọ. Quan tâm đến việc bảo vệ môi trường là một trong những cam kết quan trọng mà Tổng Công ty đã đặt ra với khách hàng và người lao động. Và để thực hiện cam kết ấy, Hòa Thọ đã nỗ lực không ngừng trong những năm qua, thể hiện bằng những việc làm rất cụ thể, mang lại hiệu quả không chỉ về mặt môi trường mà còn rất thiết thực về mặt kinh tế và xã hội.

Bên cạnh hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001:2008 và trách nhiệm xã hội theo tiêu chuẩn SA 8000, Hòa Thọ đã triển khai và áp dụng thành công hệ thống quản lý môi trường ISO 14001:2004 cho toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh tại trụ sở chính 36 Ông Ích Đường. Từ đó tới nay, hệ thống quản lý tích hợp chất lượng và môi trường đều được duy trì ổn định và Tổng Công ty là một trong số chưa nhiều những đơn vị thành viên của Tập đoàn Dệt May Việt Nam áp dụng hệ thống quản lý môi trường ISO 1400: 2004. Bên cạnh việc áp dụng hệ thống quản lý tích hợp như đã đề cập, TCT luôn thực hiện tốt, đúng và đủ các quy định về bảo vệ môi trường cho tất cả các đơn vị thành viên của mình.

Nước thải của Tổng Công ty là nước thải từ khu vực bếp ăn công nghiệp và sinh hoạt của CBCNV và nguồn tiếp nhận là sông Cẩm Lệ - phục vụ mục đích tưới tiêu và thủy lợi (nguồn tiếp nhận theo tiêu chuẩn cột B QCVN 14:2008). Tổng Công ty đã đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải công suất 240m3/ngđ với tổng kinh phí 1,3 tỷ đồng và phí duy trì hệ thống hàng năm là 100-150 triệu đồng. Điểm khác biệt của hệ thống này là công trình bãi lọc sinh học. Bãi lọc sinh học có chức năng lọc sạch các chất lơ lửng và xử lý một phần chất hữu cơ và chất dinh dưỡng (hợp chất của nitơ, photpho) còn lại trong nước thải. Thực vật được lựa chọn trồng trong bãi lọc là chuối hoa nhờ khả năng sống tốt trong đất ngập nước và hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng (Nitơ, phôt pho), đồng thời xử lý một phần chất hữu cơ còn lại trong nước thải. Ngoài ra, trồng chuối hoa có ưu điểm là cây nở hoa, tạo cảnh quan đẹp cho khuôn viên nhà máy. Mặc dù nguồn tiếp nhận chỉ yêu cầu đạt theo cột B QCVN14:2008 tuy nhiên kết quả phân tích chất lượng nước thải sau xử lý ngày 28/2/2013 của Tổng Công ty tất cả đều đạt yêu cầu của nguồn tiếp nhận ở cột A đối với 11 chỉ tiêu.

Môi trường vi khí hậu (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… trong nhà máy) cũng dành được nhiều sự quan tâm của lãnh đạo nhằm mục tiêu vừa đảm bảo yêu cầu công nghệ vừa tạo sự thoải mái cho công nhân trong thời gian làm việc. Chính vì vậy trong các khu vực sản xuất đều có hệ thống điều không thông gió hoạt động hiệu quả. Trong nhà máy sợi, hệ thống hút bụi hoạt động liên tục tại các máy, nhiệt ẩm kế được đặt và theo dõi thường xuyên. Hệ thống điều không thông gió và tách lọc bụi bông với tổng lưu lượng đạt 612.000 m3/h đảm bảo thay đổi không khí và lọc bụi trung bình 30 lần/giờ. Trước khi đẩy không khí từ nhà máy sợi ra ngoài môi trường, các quạt hút được bố trí tại buồng điều không sẽ hút bụi bông xơ xuống hầm điều không thông gió, trong hầm có hệ thống lưới lọc bụi - đảm bảo bụi bông xơ không thoát ra ngoài môi trường xung quanh. Trong các nhà máy may, hệ thống làm mát bằng nước được bố trí lắp đặt hợp lý, người công nhân may luôn được làm việc trong môi trường có nhiệt độ giảm từ 4-50C so với nhiệt độ ngoài trời.

Chất thải rắn được phân loại thành 2 nguồn riêng biệt: Khu vực rác thải sinh hoạt và rác thải từ sản xuất có thể thu gom xử lý theo quy trình thông thường hoặc tái chế; khu vực chứa chất thải nguy hại (giẻ lau dầu máy, bóng đèn huỳnh quang, dầu thải,…). Đối với chất thải nguy hại, Tổng Công ty có kho chứa đạt yêu cầu và có hợp đồng với đơn vị có chức năng để vận chuyển và xử lý. Từ năm 2008 Tổng Công ty đã hoàn thành việc đăng ký Sổ chủ nguồn thải chất thải nguy hại với Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố.

Với việc kiên trì theo đuổi mục tiêu tăng trưởng xanh ngay từ đầu, phần lớp các DN DMVN đang dần hoàn thiện và đưa vào áp dụng các biện pháp SXKD xanh. Và điều này cũng có nghĩa là DMVN có thể tiến lên thêm một nấc thang mới, tăng sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu để phát triển bền vững.